
Những bước tiến đó không phải tự nhiên có mà được xây dựng bởi những nỗ lực không ngừng nghỉ của đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Trải qua vài thế hệ, từ chỗ chỉ có 4 nghìn DN, đến nay, cả nước đã có hơn 500 nghìn DN đang hoạt động, đóng góp 30% ngân sách, 40% GDP dự kiến đến cuối năm 2015. Tỷ trọng đóng góp vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân tăng mạnh, chiếm hơn 2/3 tổng vốn đầu tư xã hội. Khu vực này hiện giải quyết cho 4,72 triệu lao động có việc làm thường xuyên, chiếm 57,1% tổng số việc làm của khu vực DN, bình quân mỗi năm tăng thêm 8,7% lao động và còn rất nhiều chỉ số kinh tế khác minh chứng cho sự đóng góp của khu vực này. Bên cạnh đó, sự phổ biến của các thương hiệu tư nhân chính là cách xã hội, người dân đang thừa nhận vai trò khu vực này. Ô tô Trường Hải cạnh tranh cùng các hãng xe lớn của thế giới trên thị trường Việt Nam; FPT trở thành nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin số 1 Việt Nam, một tên tuổi gia công phần mềm trên thế giới; Hòa Phát, Hoa Sen là những anh cả của ngành thép, Trung Nguyên dẫn đầu trong ngành café. Phú Thái là DN tư nhân duy nhất trong Top 4 nhà phân phối nội địa lớn nhất Việt Nam… Nhận định tại Hội thảo cho rằng, nếu ví nền kinh tế Việt Nam như con tàu cao tốc, thì đường ray chính là kinh tế thị trường, còn đầu máy chính là kinh tế tư nhân – động lực kinh tế tư nhân.
Đây không chỉ là cách nói hoa mỹ mà trên thực tế, kinh nghiệm thế giới đều cho thấy, các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều lấy khu vực kinh tế tư nhân làm chủ đạo. Phải nhìn nhận rõ rằng, đầu tư cho kinh tế tư nhân không phải là mục tiêu đạt tới, mà là phương tiện để phát triển kinh tế – xã hội và con người.
Nhận thức về tiềm lực, vai trò, giá trị đóng góp là như vậy, nhưng môi trường cho phát triển kinh tế tư nhân còn nhiều hạn chế.
Thứ nhất, mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn, tài nguyên, lao động đã đi đến giới hạn, nền công nghiệp chỉ dừng lại ở mức gia công trình độ thấp, nông nghiệp manh mún, năng suất thấp, sản phẩm thiếu tính cạnh tranh.
Thứ hai, thể chế kinh tế chưa đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển, tạo ra nhiều rủi ro pháp lý, chi phí tuân thủ cao, các quy định Nhà nước thiếu nhất quán… khiến một phần không nhỏ lợi ích đã hình thành qua quan hệ “xin cho” cho các bên liên quan, mà không phát sinh từ các hoạt động kinh tế tạo ra giá trị. Kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn, khiến DN tốn thời gian, công sức cho việc điều chỉnh liên tục để thích nghi, thay vì hoạch định kế hoạch kinh doanh lâu dài.
Thứ ba, ý thức về sự hạn chế của nguồn lực, nhưng Nhà nước vẫn chưa làm rõ được những mũi nhọn có hiệu quả để tạo sự đột phát kinh tế, trọng tâm đầu tư. Trong công nghiệp, công nghiệp nặng rất khó đuổi kịp thành tựu của các quốc gia tiên tiến, còn lại công nghiệp nhẹ, công nghiệp phụ trợ là vừa sức thì hiện nay vẫn thiếu sức cạnh tranh, yếu về công nghệ, không đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Nông nghiệp tuy đạt được một số thành tựu nhưng vẫn ở trình độ thấp, giá trị gia tăng không cao, chưa có một mô hình khuyến khích phù hợp để DN, nhà khoa học tham gia để nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm.
Thứ tư, kinh tế tư nhân phát triển cần phải gắn liền với sự phát triển của con người. Tuy nhiên, trong những năm qua, công tác giáo dục vẫn đang loay hoay tìm hướng đi để đào tạo được người lao động “toàn diện” cả về kiến thức, kỹ năng, đạo đức mà kết quả dường như không đáp ứng được những biến chuyển nhanh chóng của kinh tế – xã hội. Đặc biệt, sức sáng tạo của người lao động không thể được giải phóng mạnh mẽ, khi môi trường sống còn tồn tại quá nhiều những giới hạn, những điều cấm kị suốt từ khi còn là một đứa trẻ cho tới lúc trưởng thành. Một môi trường mà trẻ em ở nhà thì bố mẹ luôn đúng, đi học thì thày cô luôn đúng, đi làm cấp trên luôn đúng, thì sản phẩm tạo ra không thể là tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Từ đó có thể thấy, để khuyến khích khởi nghiệp, lập nghiệp, đột phá đổi mới là con đường còn vô vàn khó khăn.
Những đề xuất, kiến nghị
Như vậy, các đại biểu từ phía cơ quan quản lý, chuyên gia, DN đều thống nhất quan điểm: Phải coi kinh tế tư nhân là động lực, đầu tàu của nền kinh tế Việt Nam. Nhưng để biến những tư tưởng đó thành thực tế, thì phải xác định được “động lực” nào là cần thiết để thúc đẩy khu vực vô cùng tiềm năng này.
Thứ nhất, cải cách thể chế mạnh mẽ, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, minh bạch. Thể chế kinh tế nước ta cần đổi mới với 3 cấu thành, gồm các thể chế kinh tế tương thích và tuân thủ các cam kết hội nhập quốc tế (điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật kinh tế phù hợp với các cam kết hội nhập); các thể chế phòng vệ nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng, giảm thiểu các tác động không thuận lợi khi thực hiện các cam kết hội nhập (chống độc quyền, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh, tiêu chuẩn công nghệ – môi trường, hỗ trợ các đối tượng dễ tổn thương…); các thể chế hỗ trợ để tranh thủ cơ hội, lợi ích của hội nhập quốc tế (khuyến khích cạnh tranh, sáng tạo, đổi mới công nghệ…).
Thứ hai, hỗ trợ công tác phát triển DN, cụ thể ở đây có ba đối tượng DN chính: DN khởi nghiệp, DN nhỏ và vừa và DN quy mô lớn. Đối với DN khởi nghiệp, cần có các quy định, chính sách hỗ trợ về vốn, công nghệ, quản trị… các điều kiện thuận lợi để DN dễ dàng được thành lập về mặt hành chính, gia nhập thị trường trong cạnh tranh, phát triển và tiêu thụ các sản phẩm mới. Đối với DN nhỏ và vừa, lực lượng chiếm số lượng đông đảo nhất, năng động nhất, với những đóng góp không thể phủ nhận cho kinh tế – xã hội, nhưng cũng là khu vực dễ bị tổn thương, cần có chính sách hỗ trợ cụ thể được luật định rõ ràng, xóa bỏ mọi gánh nặng không chính thức, dễ dàng tiếp cận và được phép khai thác hiệu quả các nguồn lực quốc gia. Đây là 2 nhóm DN cần được hỗ trợ, tạo điều kiện nhiều nhất. Kết quả cụ thể từ ý chí kiến tạo của Nhà nước phải được đo bằng số lượng DN hoạt động thực sự. Con số 2 triệu DN tư nhân hoạt động trong vòng 5 năm tới sẽ là một trong những thước đo chính xác nhất cho những nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển.
Thứ ba, ở một góc độ cụ thể hơn để phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước, DN tư nhân trông đợi một sự hoạch định kinh tế có tính ổn định, dài hơi, môi trường kinh doanh cạnh tranh minh bạch, công bằng, chống độc quyền. Thực hiện nghiêm túc, triệt để công tác cải cách hành chính từ Trung ương tới địa phương, thay đổi quan điểm, cách thức, quy trình làm việc của cán bộ cơ quan hành chính trong các giao dịch đối với người dân, DN, bảo đảm tính đồng bộ từ tư tưởng, chính sách tới mọi cấp thực thi. Cần xử lý các vấn đề của nền kinh tế bằng nguyên tắc thị trường, từng bước loại bỏ việc can thiệp bằng các công cụ hành chính, tách bạch chức năng kinh doanh và chức năng xã hội của DN Nhà nước, quyết liệt chống độc quyền, chống tham nhũng. Bản thân người dân, DN, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp… phải được trao quyền cụ thể trong việc giám sát hoạt động của Nhà nước thông, tham gia sâu vào công tác hoạch định chính sách, pháp luật để luật đi được từ dưới lên, xuất phát trực tiếp từ nhu cầu cuộc sống. Bên cạnh đó, trong điều kiện nước ta hội nhập ngày càng sâu, rộng vào kinh tế thế giới, bên cạnh việc tạo điều kiện cho DN tư nhân nắm thông tin, các quy tắc ứng xử quốc tế, cơ hội kinh doanh, thì các cơ chế kỹ thuật cần được thiết lập để bảo vệ DN nội địa trước sự cạnh tranh khốc liệt đến từ những tập đoàn kinh tế, các Cty đa quốc gia vốn có thế mạnh về mọi mặt so với chúng ta.
Thứ tư, đồng hành với chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, nông thôn, của Đảng và Nhà nước, lực lượng DN tư nhân đang có sự dịch chuyển đầu tư, hướng tới các mô hình DN nông nghiệp, với hình thức canh tác áp dụng công nghệ hiện đại, kết hợp giải quyết công ăn việc làm, huy động nguồn lực vốn có của nông dân. Cần xác định rõ mục tiêu trong thời gian tới, đưa nước ta trở thành nhà cung cấp sản phẩm nông nghiệp hàng đầu thế giới. Các DN mong muốn sẽ nhận được những chính sách cụ thể hỗ trợ theo hướng, hình thành những chuỗi sản xuất nông nghiệp hiện đại đối với các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của Việt Nam như hoa, rau quả, chăn nuôi các con đặc sản theo tiêu chuẩn quốc tế. Có các cơ chế để thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất, cung cấp mặt bằng đất sạch để DN đầu tư xây dựng trang trại quy mô lớn, đưa nông dân truyền thống trở thành công nhân nông nghiệp, với đầy đủ các chế độ lao động, phúc lợi đảm bảo, nâng cao chất lượng đời sống người dân nông thôn. Giúp DN tiếp cận dễ dàng với các sản phẩm khoa học công nghệ nông nghiệp tiên tiến thông qua các hình thức thương mại, nhượng quyền, thuê, chuyển giao từng phần hoặc toàn bộ… từ các nguồn trong và ngoài nước. Đặc biệt, đối với các nguồn từ nước ngoài, DN không bị hạn chế với các văn bản cho phép, hướng dẫn, các thủ tục hành chính phức tạp khác. DN cũng đề nghị các đơn vị chức năng đưa ra các tiêu chuẩn, quy trình hợp lý, cụ thể trong việc tiếp cận các nguồn ưu đãi về thuế, vốn đầu tư, trong tình hình hiện nay mới chỉ dừng ở mức ủng hộ về mặt chủ trương.
Thứ năm, đối với công nghiệp, với lợi thế con người Việt Nam thông minh, khéo léo, cần tập trung đầu tư cho các lĩnh vực có hàm lượng trí tuệ cao, mở rộng sản xuất từng bước từ gia công thuần túy sang nghiên cứu và thiết kế, chế biến, nâng cao giá trị gia tăng trong mỗi đầu sản phẩm. Các lĩnh vực cơ khí, chế tạo, phần mềm, công nghệ thông tin, công nghiệp phục vụ nông nghiệp cần được đầu tư mạnh mẽ với các biện pháp cụ thể. Trước hết, nguồn nhân lực cho sản xuất công nghiệp phải được phát triển bài bản, theo các chuẩn mực quốc tế, để không những có thể tận dụng được tiềm năng của thị trường trong nước, mà hướng tới việc xuất khẩu lao động trình độ cao, phù hợp với yêu cầu hội nhập. Bên cạnh đó, đầu tư Nhà nước, hỗ trợ DN trong công tác nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất phải là giải pháp trọng tâm, đầu tư có tập trung vào các chuỗi sản xuất quy mô lớn, trở thành đầu kéo cho toàn ngành. Một khâu quan trọng khác trong vấn đề sản xuất công nghiệp của nước ta là làm thương hiệu và phát triển thị trường. Các hiệp định thương mại tự do ký kết gần đây và trong thời gian tới đang mở ra những cơ hội rộng lớn cho DN, nhưng để tận dụng được cơ hội đó, rất cần có sự hướng dẫn, hỗ trợ cả về mặt kỹ thuật lẫn kinh phí từ phía Nhà nước. Ở chiều ngược lại, thị trường nội địa cần có các biện pháp kỹ thuật để bảo hộ cho Thương hiệu Việt trước sức mạnh của các tập đoàn đa quốc gia và mối đe dọa từ nạn hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu hiện vẫn chưa thể kiểm soát hiệu quả.
Theo Baoxaydung.com.vn